NÂNG CAO SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

VÀ PHÁT TRIỂN Y TẾ BỀN

SỨC KHOẺ - YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

ĐẾN TOÀN XÃ HỘI

Sức khỏe là quyền bất khả xâm phạm của con người theo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người. Vì sức khỏe tốt cho phép con người phát huy hết tiềm năng của mình, trẻ em có khả năng học tập tốt hơn, lao động có năng suất hơn và cha mẹ chăm sóc con cái tốt hơn. Hiện nay nền kinh tế của Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển và thay đổi chóng mặt, con người là chủ thể của xã hội, có thể đưa ra những quyết định thay đổi về mặt hình thái kinh tế. Từ đó có thể nhận thấy được rằng, việc đảm bảo cho con người có sức khỏe tốt sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển bền vững. Ngoài ra, việc đảm bảo sức khỏe là điều cần thiết cho các nỗ lực xóa nghèo và đạt được phát triển bền vững, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và cộng đồng thịnh vượng.

NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN ĐỌNG

CỦA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM

Các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, như người nghèo, dân tộc thiểu số, dân cư các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, đối mặt với nhiều rào cản trong việc tiếp cận y tế chất lượng cao. Tình trạng này chủ yếu bắt nguồn từ sự bất bình đẳng về về nơi cư trú, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế và nhóm dân tộc.

  • Trang thiết bị y tế của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ, lạc hậu, và phần lớn đều nhập khẩu từ nước ngoài, đặc biệt ở những khu vực nông thôn và miền núi. Nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là việc thiếu hụt trong ngân sách, phân bổ kinh phí chưa phù hợp, hay tình trạng ách tắc trong mua sắm trang thiết bị khi nhu cầu tăng cao ví dụ như trong dịch COVID-19. 
  •  
  • Bên cạnh đó, nhiều đối tượng bệnh nhân hay vấn đề thuộc lĩnh vực y tế vẫn còn thiếu những thiết bị hỗ trợ. Vấn đề này đòi hỏi những thiết bị mang tính chất đột phá, có tính ứng dụng cao.

Hiện nay còn thiếu những trang thông tin về y tế - sức khỏe chính xác, minh bạch, rõ ràng, và dễ tìm hiểu cho nhiều đối tượng khác nhau. Quá trình tìm kiếm thông tin thường mất nhiều thời gian, bất tiện, và không hiệu quả. Từ đó dẫn đến sự thiếu kiến thức y tế trong cộng đồng, nhiều người dân áp dụng và lan truyền những thông tin sai lệch gây ảnh hưởng sức khỏe.

PHÁT TRIỂN Y TẾ VÀ NÂNG CAO SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG

ỨNG DỤNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG Y TẾ

Y tế số là bước đi cần thiết tiếp theo, không chỉ ứng dụng công nghệ thông tin vào các mô hình dịch vụ y tế truyền thống mà còn sáng tạo ra những nền tảng mới với bệnh nhân là trung tâm, đem đến giải pháp cho bài toán chăm sóc sức khỏe cho mọi người, ở mọi lúc và mọi nơi. Ngày nay, một số công nghệ đã và đang được nghiên cứu và áp dụng trong ngành y tế bao gồm những hình thức khám chữa bệnh từ xa (Telehealth - Telemedicine) và các giải pháp thông minh như trí tuệ nhân tạo (AI) ví dụ như “AI Trợ lý bác sĩ” được phát triển bởi VinBrain.

MÔ HÌNH KINH DOANH CẢI THIỆN

VÀ NÂNG CAO DỊCH VỤ Y TẾ

Sự quá tải và thiếu hụt trong hệ thống y tế tại Việt Nam chính là cơ hội sáng cho sự phát triển các mô hình kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế như cải tiến hình thức khám chữa bệnh truyền thống hay sáng tạo giải pháp giao thương cho sự thiếu hụt thiết bị y tế. Jio Health - dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện trên nền tảng số là một ví dụ điển hình giúp giảm thiểu sự quá tải tại cái hệ thống y tế truyền thống và hứa hẹn cho sự phát triển số hóa trong lĩnh vực.

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG

TOÀN DIỆN VỀ THỂ CHẤT TINH THẦN, XÃ HỘI

Để đạt được một xã hội phát triển toàn diện, ngành y tế cần quan tâm đến việc phòng ngừa và hỗ trợ phát triển sức khỏe cộng đồng toàn diện về thể chất và tinh thần thông qua các mô hình với cá nhân làm trung tâm bất kể các rào cản về kinh tế hay địa lý.   Một ví dụ điển hình cho mô hình này là Seesaw, quán quân VSIC toàn quốc 2020, với sản phẩm trò chơi Offline chữa lành chấn thương tâm lý.

Trần Nam Bình (2006), “Đổi mới giáo dục tại Việt Nam”, Vietsciences,  http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/giaoduc/doimoigiaoductaivietnam.htm, truy cập ngày 3/8/2022

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), https://moet.gov.vn/thong-ke/Pages/thong-ke.aspx, truy cập ngày 3/8/2022.

Ninh Thị Hạnh (2017), “Phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 

https://d1wqtxts1xzle7.cloudfront.net/55783773/H.T._Tu__N.T._Hanh_Phat_trien_CT_Tap_chi_KH__DHQG.2017-with-cover-page-v2.pdf?Expires=1662965726&Signature=YhwYK3FBBdyVguLR9yTHv-NnrRmMstTDP-hHMpPT0PoG~KYIS8GKQpo9S0TDTdTMYrEzRBDLjwvYmsOcsLNm8YRMmhBkzoUTSBvYeLLT7Lnc6mysVKzPchaZto8vDenm3aiRacoVdDEPY3BeOnEnvKOooHJdDndbWt52qHHgQTJ4GfEOnJ3U-CyfiVQw8eb0Dtk0Ua9YgDxq3A-GxI8gGDwQ9RckPFpsLfBnAZGk5B3wuWeKTXlL50Kz0d7B2c-3KHj-zVtB4VbIO6cjAhdbdWVerh0WWJnzPM9MreGZ8j7AbJJNFijeY9D3omdtEKYwSI7A0iPflNVtrQhzbyztUQ__&Key-Pair-Id=APKAJLOHF5GGSLRBV4ZA, truy cập ngày 4/8/2022.

Lê Ba Phong (2020), “Tác động của giáo dục khởi nghiệp và nhân tố bối cảnh đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Công nghiệp Hà Nội”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ – Đại học Công nghiệp Hà Nội, https://dlib.haui.edu.vn/home/bitstream/123456789/2078/1/30.%20Le%20Ba%20Phong.pdf, truy cập ngày 4/8/2022.

ThS. Nguyễn Xuân Phong (2021), “Những thách thức của giáo dục đại học trong bối cảnh CMCN 4.0 nhìn từ góc độ cơ hội việc làm cơ hội việc làm của sinh viên”

https://repository.vnu.edu.vn/flowpaper/simple_document.php?subfolder=10/33/61/&doc=103361303279348102610830699363146638238&bitsid=f7eb7dfa-0783-46cb-96be-6e93adb92e9f&uid=, truy cập ngày 5/8/2022.

PGS.TS. Mạc Văn Tiến (2016), “Thực trạng và định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, http://admin.ilssa.org.vn/UserFiles/files/BanTinKhoaHoc/Ban-tin-khoa-hoc-so-49.pdf#page=13, truy cập ngày 5/8/2022.

Phan Thị Bích Lợi, Nguyễn Thị Kiều Oanh (2020), “Một số mô hình giáo dục trực tuyến trên thế giới và đề xuất cho Việt Nam”, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, http://vjes.vnies.edu.vn/sites/default/files/bai10_so35t11.pdf, truy cập ngày 5/8/2022.